23:28 ICT Thứ năm, 23/10/2014

Trang nhất » Tin Tức » Đối thoại giảm nhẹ thiên tai

Các vấn đề chính trong thực hiện các chính sách phòng chống và giảm nhẹ thiên tai ở các tỉnh duyên hải miền Trung

Thứ bảy - 26/05/2012 09:03
I. Tổng quan về thiên tai trên địa bàn tỉnh Quảng Trị:
1. Khái quát chung:
Quảng Trị là tỉnh ven biển thuộc Bắc miền Trung; Bắc giáp Quảng Bình, Nam giáp Thừa Thiên-Huế, Tây giáp nước CHDC ND Lào và phía đông giáp Biển Đông với bờ biển dài 75 km. Diện tích tự nhiên 474.414 ha. Dân số gần 600.000 người. Là tỉnh thuộc khu vực chuyển tiếp giữa hai vùng địa lý là miền Bắc và miền Nam.
Địa hình tỉnh Quảng Trị dốc nghiêng từ Tây sang Đông, có chiều ngang hẹp từ 50-60 km, chia thành 04 vùng: Vùng núi cao có cao độ từ 700 đến 1.500 m, có đỉnh Voi Mẹp cao 1.700 m, kế tiếp là vùng trung du - đồi bát úp có cao độ từ 300-400m; Vùng ven biển là dải cồn cát chạy dài suốt 75 km bờ biển, độ cao trung bình từ 8 đến 20 m, rộng khoảng 5 đến 6 km. Nằm kẹp giữa vùng trung du - đồi bát úp và vùng cồn cát ven biển là dải đồng bằng nhỏ hẹp, rộng khoảng 10 km, cao độ từ -0,5 đến +8 m tạo thành thế lòng chảo, diện tích chiếm trên 10% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; Đây là nơi tập trung dân cư chiếm trên 85% dân số toàn tỉnh.
Ở tỉnh có 03 hệ thống sông chính: sông Thạch Hãn (Flv: 2.800 km2) có cửa sông là Cửa Việt, sông Bến Hải (Flv: 963 km2) có cửa sông là Cửa Tùng, sông Ô Lâu (Flv: 847 km2) đổ ra biển qua cửa Lác đổ ra phá Tam Giang, phía Tây Trường Sơn có sông Sê Pôn và Sê Băng Hiêng chảy về sông Mê Kông. Mật độ sông suối khá cao (1,09 km/km2)., các sông có đặc điểm ngắn và dốc.
Các đặc điểm trên quyết định các loại hình thiên tai như lũ, ngập lụt, xói, sạt lở bờ sông, xâm nhập mặn xảy ra trên địa bàn tỉnh.
Trong xu thế biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu như hiện nay, thiên tai đối với cả nước nói chung và Quảng Trị nói riêng trở nên ngày càng khó lường, khó dự đoán và dự báo chính xác về thời gian và cường độ cũng như thiệt hại do thiên tai gây ra. Vấn đề phòng chống và giảm nhẹ rủi ro thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu đang đạt ra những yêu cầu bức bách đối với sự phát triển bền vững của cả nước nói chung và Quảng Trị nói riêng.
2. Thiên tai trên địa bàn tỉnh:
Quảng Trị là nơi chịu ảnh hưởng của hầu hết các loại thiên tai thường xảy ra ở Việt Nam nhưng với tần suất cao hơn và mức độ ác liệt hơn như bão, Áp thấp nhiệt đới (ATNĐ), lũ lụt, lũ quét, hạn hán, lốc tố, dông sét, sạt lở đất, sụt lún đất, úng hạn, xâm nhập mặn, triều cường, … trong đó nhiều nhất là bão, lũ, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn, lốc xoáy và sạt lở đất. Bão lụt thường xảy ra từ tháng 9 đến giữa tháng 12 hàng năm, tập trung nhiều nhất vào các tháng 10, 11. Bão, ATNĐ xảy ra kèm theo mưa lớn, triều cường dâng cao gây ngập lụt ở đồng bằng, lũ quét ở miền núi và vùng gò đồi. Các hình thái thiên tai khác như lũ tiểu mãn (gây ngập úng) xảy ra từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm; Lốc xoáy, dông sét, mưa đá, sạt lở đất, ... xảy ra quanh năm.
Dựa trên mức độ thiệt hại của thiên tai, phạm vi ảnh hưởng và tần suất xuất hiện của chúng, có thể xếp các loại thiên tai ở Quảng Trị theo thứ tự sau:
     Bảng: Phân loại các nhóm thiên tai ở Quảng Trị.
Tác động mạnh Tác động vừa Tác động nhẹ
Ngập lụt Hạn hán Sự cố tràn dầu
Bão, ATNĐ Rét hại, rét đậm Xói lở bờ biển
Ngập úng Sa mạc hoá Nước biển dâng
Lốc tố Gió Tây Nam khô nóng Mưa đá
Xói lở bờ sông Sụt lún đất Dông, sét
Lũ quét   Sạt lở đất đồi núi
Xâm nhập mặn    
2.1. Về bão: Thống kê 12 năm trở lại đây (1998-2009), trên địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của 24 cơn bão và áp thấp nhiệt đới (trung bình 02 cơn/1 năm) gây nhiều thiệt hại đến tài sản của nhân dân và Nhà nước. Điển hình là 03 cơn bão: Bão số 6 (Xangsane) từ ngày 30/9 - 03/10 năm 2006, Bão số 7 từ ngày 27-30/9 năm 2008 và Bão số 9 từ ngày 27/9 - 03/10 năm 2009.
2.2. Về lũ lụt: Tính trung bình nhiều năm thì mùa lũ lụt chính vụ thường xảy ra khoảng từ giữa tháng 9 đến đầu tháng tháng 12 hàng năm. Tuy nhiên, những năm gần đây do ảnh hưởng biến đổi khí hậu toàn cầu nên trên địa bàn tỉnh thường xảy ra lũ sớm vào giữa tháng 8 đến đầu tháng 9 và lũ muộn từ cuối tháng 12 đến đầu tháng 1, đặc biệt là hiện tượng lũ trái mùa đã xảy ra vào tháng 2 năm 2006. Có 03 đợt lũ lớn đặc trưng là: Đợt lũ lịch sử từ ngày 01-06/11 năm 1999, đợt lũ lịch sử đặc biệt trên lưu vực sông Bến Hải từ ngày 06-09/10 năm 2005 và đợt lũ do ảnh hưởng của cơn bão số 9 từ ngày 27/9 - 03/10 năm 2009 (Đây là đợt lũ có diện ngập lụt rộng hơn cả đợt lũ lịch sử năm 1999, đặc biệt xảy ra lũ, ngập lụt lớn trên sông ĐaKrông, sông Sê Pôn).

2.3 . Về  lũ quét:

Theo số liệu thống kê: Trên địa bàn toàn tỉnh có 55 thôn, bản của 14 xã thuộc 04 huyện ở trong vùng có khả năng chịu ảnh hưởng của lũ quét phải di dời, sơ tán với tổng số hộ sống trong vùng bị ảnh hưởng là 1.122 hộ với 6.332 người.
Các trận lũ quét điển hình: Đợt lũ quét tháng 10/1983 ở thượng nguồn sông Nhùng và sông Thác Ma trên địa bàn huyện Hải Lăng (làm 65 người chết); Đợt lũ quét tháng 10/1995 ở thượng nguồn sông ĐaKrông với cường suất mưa 200 mm/h (làm 04 người chết); Đợt lũ quét tháng 10/2005 ở thượng nguồn sông Bến Hải tại Gia Voòng (cường suất lũ 01 giờ là 1,69m, đỉnh lũ đạt 17,41m vượt đỉnh lũ lịch sử trước đây và vượt báo động 3 là 7,41m); Đợt mưa lũ do bão số 9 năm 2009 đã gây lũ quét trên diện rộng ở thượng nguồn sôngThạch Hãn gồm 09 xã của huyện ĐaKrông (Pa Tầng, A Bung, Ba Nang, A Ngo, A Vao, Tà Rụt, Húc Nghì, Tà Long, ĐaKrông).

2.4.  Sạt lở bờ sông:

Hiện tượng sạt lở bờ sông hầu như xảy ra liên tục hai bên bờ các sông chính (Thạch Hãn, Bến Hải, Thác Ma - Ô Lâu) và các sông nhánh với chiều dài sạt lở trên tất cả các sông là: 111,76 km. Sạt lở bờ sông đã ảnh hưởng đến đời sống nhân dân tại các khu dân cư của 71 thôn, khu phố của 31 xã, phường, thị trấn thuộc 07 huyện, thị xã với tổng số hộ sống trong vùng bị ảnh hưởng phải di dời, sơ tán là 2.207 hộ với 11.030 người (Trong đó, số hộ hiện đang sống trong vùng thực sự nguy hiểm phải di dời, cách mép sông < 20m: 584 hộ với 2.910 người).
2.5. Các loại hình thiên tai khác: Hạn hán, xâm nhập mặn, sét, lốc xoáy, rét hại rét đậm, … xảy ra hàng năm. Các hình thế thời tiết bất thường xảy ra những năm gần đây ngày càng gia tăng, điển hình như: Sụt lún đất ở Cam Lộ năm 2006; rét hại rét đậm đầu năm 2008, … Ngoài ra xâm nhập mặn, hạn hán và gió Tây Nam khô nóng đã gây thiệt hại đáng kể hàng năm trên địa bàn tỉnh.
Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trên địa bàn tỉnh từ năm 1989 - 2011 là:
- Về người: Chết: 233 người; Bị thương: 777 người; Bị dịch bệnh: 23.983 người.
- Về tài sản: trên 6.277 tỷ đồng. 
 
3.  Các hoạt động phòng, chống giảm nhẹ thiên tai trên địa bàn tỉnh.
a. Công tác dự báo, cảnh báo sớm.
Công tác dự báo, cảnh báo sớm được thực hiện bởi các Trung tâm KTTV, Hệ thống trạm quan trắc khí tượng, thủy văn và các cơ quan truyền tin như  Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, các Đài phát thanh địa phương  do đó đã theo dõi chặt chẽ tình hình diễn biến của thời tiết, thủy văn trên phạm vi cả nước. Dự báo sát diễn biến các đợt không khí lạnh, rét đậm, rét hại, tình hình khô hạn, các đợt nắng nóng gay gắt, các đợt mưa vừa, mưa to diện rộng ở Miền Trung, kịp thời phục vụ công tác chỉ đạo sản xuất và phòng chống nhằm giảm thiểu thiệt hại do thiên tai.
Nghiên cứu, cải tiến nội dung, đa dạng hóa bản tin dự báo KTTV, cải tiến bản tin bão theo hướng có bản tin đầy đủ phục vụ công tác chỉ đạo của các cấp chính quyền và bản tin bão dưới dạng bảng biểu đơn giản phục vụ chung cho cộng đồng; hạn chế tối đa các sai số không đáng có như vấn đề đường đi của bão. Đã khắc phục triệt để tình trạng nghẽn mạng các trang website; cung cấp sớm thông tin cho các phương tiện thông tin đại chúng, v.v...
Mặc dù, đã có nhiều cố gắng, thường xuyên theo dõi diễn biến, cảnh báo và dự báo sớm các hiện tượng thủy văn, đặc biệt là các hiện tượng khí tượng thủy văn nguy hiểm; Tuy nhiên  công tác dự báo vẫn còn những tồn tại và gặp phải những khó khăn sau:
*  Mạng lưới trạm quan trắc khí tượng thủy văn còn quá thưa, nhất là các vùng thượng lưu sông và các công trình thủy điện, thủy lợi. Thông tin số liệu về vận hành các hồ chứa chưa được cập nhật kịp thời, thậm chí không có, gây khó khăn cho công tác dự báo vùng hạ lưu hồ. 
* Công tác dự báo, cảnh báo động đất, sóng thần ở khu vực Miền Trung còn quá ít, mặc dù là khu vực được xác định là nguy cơ cao nhất nước xảy ra sóng thần.
* Một vấn đề khó khăn nhất và cũng là yêu cầu cao nhất của xã hội cho đến  nay vẫn còn hạn chế là dự báo định lượng mưa. Điều này, đòi hỏi cần phải tiếp tục đầu tư nghiên cứu cả về công cụ lẫn con người.
Vì vậy, để công tác dự báo, cảnh báo sớm hiệu quả hơn, xin kiến nghị:
* Cần tăng cường lưới trạm KTTV, phát triển các trạm tự động ở vùng núi và hạ lưu các công trình thủy lợi, thủy điện
* Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan vận hành hồ chứa nước với cơ quan dự báo KTTV để việc quản lý, điều hành các hồ chứa nước miền Trung cũng như việc dự báo cho vùng hạ lưu các sông hiệu quả hơn.
* Tiếp tục đẩy mạnh việc thông tin tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về thiên tai bão, lũ và công tác dự báo KTTV.
b. Công tác chuẩn bị:
Hàng năm, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố đều ban hành chỉ thị về công tác PCLB&TKCN đồng thời kiện toàn Ban chỉ huy PCLB&TKCN các cấp theo hướng gọn, mạnh.
          Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm công tác PCLB &TKCN năm trước; xây dựng phương án ứng phó với bão, lũ và thiên tai trên địa bàn năm kế hoạch phù hợp với đặc điểm từng vùng, khu vực cụ thể theo phương châm “bốn tại chỗ”; đồng thời kiểm tra phương án PCLB và TKCN của các địa phương, đơn vị để đảm bảo sẵn sàng tổ chức thực hiện trong các tình huống thiên tai.
          Kiểm tra các công trình thủy lợi, đê điều và các công trình phòng chống thiên tai khác; tổ chức thực hiện nâng cấp, sửa chữa, xây dựng các công trình phòng chống thiên tai trước mùa mưa, bão như hệ thống đê điều, hồ chứa, cơ sở hạ tầng cụm, tuyến dân cư, khu neo đậu tàu thuyền, hệ thống kè chống sạt lở, trồng rừng và di dân tái định cư khỏi vùng bão lũ, sạt lở.
Củng cố hệ thống thông tin liên lạc đảm bảo duy trì hoạt động trong mùa mưa bão.
 Tổ chức các cuộc diễn tập PCLB-TKCN quy mô cấp xã, huyện, tỉnh; tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ, tuyên truyền cho cán bộ làm công tác PCLB & TKCN và người dân nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng trong việc phòng tránh và ứng phó với thiên tai. 
Được sự giúp đỡ của các tổ chức NGOs như tổ chức Oxfam Hồng Kông, Plan, Quảng Trị  đã xây dựng thí điểm và duy trì các mô hình cảnh báo sớm tại cộng đồng trên cơ sở kết hợp giữa yếu tố kinh nghiệm truyền thống dân gian và kinh nghiệm thực tiển trong việc triển khai ứng phó của chính quyền cấp thôn, xã trong những năm gần đây như đầu tư xây dựng hệ thống tháp báo lũ, hệ thống cảnh báo bằng trống, chiêng ở địa bàn miền núi, ... Tăng cường các điểm đo mưa, mực nước tại cộng đồng, đồng thời xây dựng thêm các trạm thủy văn chuyên dùng cấp tỉnh để bổ sung nguồn số liệu do hệ thống quan trắc hiện nay đang còn rất mỏng.
c. Hoạt động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại.
- Trước khi bão, lụt xảy ra: Chuẩn bị sẳn sàng triển khai các phương án, kế hoạch đã lập, trong đó tập trung chỉ đạo việc chằng chống nhà cửa cho dân; Nghiêm cấm không cho tàu, thuyền ra khơi, thông báo cho tàu, thuyền ngoài khơi trở về nơi trú ẩn, kiểm tra số lượng tàu thuyền đi về và neo đậu. Có các thông tin, báo cáo về số lượng vị trí tàu thuyền đang ở ngoài khơi và các địa phương khác để có hướng yêu cầu giúp đở. Chằng neo tàu thuyền an toàn ở các nơi trú ẩn; Đối với vùng dân cư ven biển có khả năng ảnh hưởng sóng thần trước đây, vùng lũ quét, vùng sau hồ, đập, vùng thấp lụt có phương án, biện pháp di dời dân đến nơi trú ẩn an toàn; Thông báo cho các đơn vị thuộc lực lượng tìm kiếm cứu nạn chuẩn bị lực lượng, phương tiện, vật tư, trang thiết bị, công tác ứng cứu đã đăng ký để phục vụ các công trình và vùng trọng điểm khi có lệnh; Tiến hành sơ tán dân vùng ven biển trước khi bão vào khi có lệnh của Chính phủ.
- Trong bão, lụt: Thường xuyên nắm bắt tình hình, diễn biến của thời tiết để có chỉ đạo kịp thời, sâu sát; thông tin hai chiều luôn thông suốt. Tăng cường trực chỉ huy, chỉ đạo từ trên xuống cơ sở; tăng thời lượng ốp quan trắc để tăng số liệu theo dõi diễn biến thiên tai. Tăng thời lượng thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng và thông tin liên lạc với cơ sở nhất là các vùng trọng điểm: vùng triều cường, lũ quét, sạt lở, vùng sau hồ đập, vùng thấp lụt, ... Thực hiện phương châm "4 tại chổ" là chủ yếu (Chỉ huy tại chổ; Lực lượng tại chổ; vật tư và trang thiết bị tại chổ; hậu cần tại chổ). Điều hành các lực lượng cứu hộ, cứu nạn kết hợp với lực lượng các địa phương triển khai khắc phục khẩn cấp kịp thời một số công trình hư hỏng để chủ động phòng, chống với lũ bão kéo dài.
- Sau lụt, bão: Nhanh chóng nắm tình hình thiệt hại ở các vùng. Từ các nguồn hỗ trợ bão, lụt ở trong và ngoài tỉnh nhanh chóng cứu trợ cho nhân dân về lương thực, thuốc men và học tập của con em. Vệ sinh môi trường, nguồn nước sinh hoạt, phòng chống dịch bệnh; Sửa sang nhà cửa, trường học, bệnh xá, để ổn định đời sống khu dân cư; Sửa chữa các công trình hạ tầng để đối phó với các đợt bão, lũ sau và ổn định đời sống xã hội; Chuẩn bị giống, cây trồng, vật nuôi để tập trung sản xuất bù đắp thiệt hại. Tổ chức sơ kết, đánh giá sau mỗi đợt thiên tai để rút kinh nghiệm chủ động đối phó với các đợt tiếp theo. 
 
4.  Tổng quan các chương trình, chính sách từ Chính phủ và của tỉnh về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai.
- Thực hiện Chiến lược Quốc gia về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg ngày 16/11/2007 ; Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu tại Quyết định số 2139/2011/QĐ-TTg ngày 05/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu tại Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ; UBND tỉnh đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai (GNTT) đến năm 2020 của tỉnh tại Quyết định số 38/2008/QĐ-UBND ngày 28/11/2008 và phê duyệt Kế hoạch quản lý rủi ro thiên tai tổng hợp của tỉnh đến năm 2020 tại Quyết định số 05/2010/QĐ-UBND ngày 11/3/2010. Hiện nay  UBND tỉnh đang xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.
-  Tổ chức thực hiện Nghị định số 08/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh Phòng chống lụt bão  và   Quyết định số 46/2006/QĐ-TTg ngày 28/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án: Quy hoạch tổng thể lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020:  Hàng năm UBND  tỉnh đều  ban hành Chỉ thị về công tác phòng, chống lụt, bão, tìm kiếm cứu nạn và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra và ban hành Quyết định kiện toàn BCH PCLB và TKCN của tỉnh theo hướng gọn, mạnh theo Nghị định số 14/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế phối hợp của Ban Chỉ đạo PCLB Trung ương, Ban Chỉ huy PCLB & TKCN các Bộ ngành và địa phương trong đó  phân công trách nhiệm và địa bàn cụ thể cho các thành viên Ban Chỉ huy để thực hiện công tác kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn thực hiện việc phòng, chống lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn theo kế hoạch và phương án đề ra.
- Thực hiện Quyết định 1002/2009/QĐ-TTg ngày 13/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ và chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và PTNT tại văn bản số 4270/BNN-ĐĐ ngày 24/12/2009, hiện nay  tỉnh  đang xây dựng Kế hoạch thực hiện Đề án nâng cao năng lực cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng  để tổ chức thực hiện.
          Các chủ trương, chính sách của các tỉnh về GNRRTT  đều tập trung vào hai giải pháp: phi công trình và công trình:
          Giải pháp phi công trình:
          - Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn, thi hành pháp luật, cơ chế, chính sách
- Kiện toàn tổ chức, bộ máy và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ các cấp.
- Lập và rà soát quy hoạch như bản đồ phân vùng nguy cơ xảy ra lũ quét; bản đồ phân vùng ngập lụt, đánh giá rủi ro do lũ lụt; bản đồ phân vùng đánh giá rủi ro hạn hán; bản đồ xác định nguy cơ sóng thần; bản đồ xác định nguy cơ bão, nước dâng; bản đồ xác định nguy cơ sạt lở bờ sông, bờ biển; Rà soát, bổ sung các quy hoạch: phòng chống lũ; hệ thống đê sông, đê biển, đê cát, kè sông, kè biển; bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ bờ biển, ven biển; xây dựng nhà ở dân cư sống chung an toàn với lũ và bão .v.v.v
- Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo cấp tỉnh
- Nâng cao nhận thức cộng đồng
- Chương trình trồng và bảo vệ rừng phòng hộ
- Chương trình tăng cường năng lực quản lý thông tin và ứng cứu, khắc phục
- Tăng cường năng lực quản lý thiên tai và ứng dụng khoa học công nghệ.
          Giải pháp công trình:
          - Xây dựng và củng cố hệ thống đê, kè .
-  Củng cố, bảo đảm an  toàn hệ thống hồ chứa trên địa bàn tỉnh
- Xây dựng các khu tái định cư di dời dân ở các vùng sạt lở bờ sông, đồi núi, lũ quét. Xây dựng các nhà trú, tránh lũ
- Xây dựng hệ thống các khu neo đậu cho tàu thuyền tránh trú bão:
- Xây dựng, củng cố, nâng cấp, sửa chữa các tuyến đường tỉnh lộ  nhằm đảm bảo giao thông, đi lại thuận tiện, dễ dàng trong mùa mưa lũ, phục vụ cho công tác ứng cứu, sơ  tán dân khi thiên tai xảy ra.
-  Nạo vét các sông đảm bảo tiêu thoát lũ
5. Đánh giá kết quả thực hiện các chính sách .
5.1) Kết quả đạt được.
Kế hoạch quản lý rủi ro thiên tai tổng hợp của tỉnh đến năm 2020 được phê duyệt với nhu cầu đầu tư cho công tác phòng, chống và GNTT đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh là 8.167,6 tỷ đồng, trong đó cho các biện pháp công trình  là 7.678 tỷ đồng và các biện pháp phi công trình là 489,6 tỷ đồng; bình quân mỗi năm cần khoảng 818 tỷ cho công tác phòng, chống và GNTT – thích ứng với BĐKH (thời giá năm 2008).
Những năm gần đây, kinh tế của tỉnh có tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân 10,8%/năm. Nhưng do xuất phát điểm thấp, nên đến nay Quảng Trị vẫn là một tỉnh phát triển thấp. Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 16 triệu đồng (Tương đương 845 USD, bằng 70% so với bình quân cả nước), thu ngân sách đạt 935 tỷ đồng, mới đáp ứng 1/3 chi ngân sách địa phương.
Tuy nhiên với sự giúp đỡ của các Bộ, ngành TW  thông qua các chương trình, dự án và đặc biệt là sự hỗ trợ có hiệu quả của các nhà tài trợ nhằm thực hiện Chiến lược quốc gia về phòng, chống giảm nhẹ thiên tai,  tỉnh quảng Trị đã tập trung thực hiện những nội dung thật  sự cấp bách để hạn chế  và giảm thiểu tới mức thấp nhất ảnh hưởng của thiên tai và  BĐKH trên địa bàn tỉnh.
  1. Đối với giải pháp phi công trình:
-  Thông qua Chương trình nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo (được hình thành từ các nguồn vốn huy động hợp pháp): UBND tỉnh đã thực hiện đầu tư và vận hành thử 09 trạm thủy văn và 03 điểm đo mưa tự động trên địa bàn tỉnh; Xây dựng trang Website của Ban chỉ huy PCLB và TKCN tỉnh; Xây dựng thêm 90 tháp cảnh báo lũ ở các khu vực thấp trũng trên địa bàn tỉnh; Ngoài ra, đã đầu tư thí điểm các loại hình cảnh báo dân gian như kẻng, chiêng, trống, loa cầm tay … ở 12 xã vùng sâu, vùng xa nhằm kết hợp giữa kinh nghiệm dân gian và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến để nâng cao năng lực và hiệu quả việc cung cấp thông tin dự báo, cảnh báo tới các đối tượng và cộng đồng.
- Thông qua Chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng: Đã tổ chức các cuộc diễn tập quy mô cấp tỉnh, huyện, xã, thôn ở nhiều vùng, miền khác nhau. Đã tổ chức tập huấn, đào tạo thường xuyên các đội ngũ TOT ở các cấp, tập huấn kiến thức về biến đổi khí hậu, quản lý thiên tai dựa vào cộng đồng cho 40 xã, phường trọng điểm về thiên tai.
- Được  sự tài trợ của tổ chức Oxfam Hồng Kông, tỉnh  đã triển khai thí điểm Đề án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng theo Quyết định 1002 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn 05 xã Hải Lâm, Hải Sơn, Hải An, Hải Dương, Hải Ba thuộc huyện Hải Lăng. Các hoạt động đã được triển khai như: tập huấn 4 tại chỗ, tập huấn lập kế hoạch phòng chống thiên tai dựa vào vào cộng đồng, dạy bơi cho giáo viên và hội phụ nữ; cung cấp ghe, thuyền, áo phao cho đội xung kích tuyên truyền.v.v.v. Tuy nguồn vốn hỗ trợ không nhiều nhưng đã mang lại hiệu quả thiết thực.
- Chương trình trồng và bảo vệ rừng: được tỉnh chỉ đạo thực hiện quyết liệt. Tỉnh đã quan tâm đầu tư trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ đồng thời hỗ trợ nhân dân trồng rừng kinh tế.  Từ năm 2007-2010: Bảo vệ rừng 92.109 lượt/ha; Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 5.377 lượt/ha; Chăm sóc rừng trồng phòng hộ 13.804 lượt/ha; Trồng rừng tập trung 5.000 đến 5.500 ha/năm. Thông qua các chương trình dự án của Chính phủ cũng như của các tổ chức Quốc tế, tỷ lệ độ che phủ của rừng trên địa bàn tỉnh ngày càng được tăng thêm  (từ 29,7% năm 1999 lên 47,1% vào năm 2011 - tăng thêm bình quân 1%/năm);; đã tạo được một hệ sinh thái bền vững có tác dụng phòng hộ,  giữ đất, giữ nước; cải tạo và bảo vệ môi trường;  hệ thống đất cát ven biển được tổ chức và khai thác có hiệu quả hơn; tình trạng cát bay, cát lấp ven biển cơ bản được giải quyết, nhiều vùng đất cát đã được cải tạo chuyển sang sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Chương trình trồng và bảo vệ rừng  đã góp phần tích cực vào việc  phát triển tài nguyên rừng, cải thiện và ổn định môi trường sinh thái, hạn chế thiên tai lũ lụt,  hạn hán gây ra.
b)  Đối với giải pháp công trình:
+  Xây dựng và củng cố hệ thống đê, kè (đê trực tiếp biển, đê cửa sông, đê sông, đê cát và kè sông):
- Hệ thống đê biển, đê cửa sông, đê cát thực hiện theo Quyết định 58/2006/QĐ-TTg ngày 14/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình đầu tư củng cố, nâng cấp đê biển tại các tỉnh có đê từ Quảng Ninh đến Quảng nam , trong đó tỉnh Quảng Trị được xác định  7 tuyến đê với chiều dài 148km (Đê biển Vĩnh Thái, Vĩnh Linh 7 km; Đê tả bến Hải, Vĩnh Linh 12 km; Đê hữu Bến hải, Gio Linh 8 km; Đê tả Thạch Hãn, Gio Linh 11 km; Đê hữu Thạch Hãn, Triệu Phong 19 km; Đê tả Ô Lâu, Ô Giang 43 km; Đê cát Gio Linh 11 km; Đê cát Triệu Phong  20 km; Đê cát Hải Lăng  17 km).
Đến năm 2011 đã xây dựng được 60,44km đê, trong đó: Đê biển 2,72km; Đê cửa sông: 57,72km; Đê Tả Bến hải: 8,99km; Đê Tả Thạch hãn: 0,94km; Đê Hữu Thạch hãn: 0,87km; Đê Bắc Phước: 5,92km; Đê cát Hải Lăng: 12km; và với sự tài trợ của ADB, WB4 thông qua Dự án Quản lý rủi ro thiên tai và Dự án khắc phục khẩn cấp thiên tai 2005 tỉnh đã xây dựng hoàn thành hệ thống đê bao cho cả vùng úng trũng huyện Hải Lăng với chiều dài 55km kết hợp với 18 công trình nhà tránh lũ và trung tâm xử lý khẩn cấp thiên tai đã góp phần quan trọng trong việc phòng chống, giảm thiểu tác động của thiên tai đến đời sống, tài sản, cơ sở hạ tầng và  tạo  điều kiện cho sự phát triển bền vững của 12 xã thuộc huyện Hải Lăng.
Cũng thông qua Chương trình Đê biển, tỉnh đã  thực hiện trồng 33 ha cây chắn sóng dọc tuyến đê Bắc Phước thực sự tạo nên vành đai phòng hộ nhằm giảm sự tác động của sóng, triều cường đến hệ thống đê, bảo vệ tuyến đê, chống sạt lở đê, tăng khả năng lắng đọng phù sa, cải thiện môi trường sinh thái, góp phần phát triển bền vững vùng đất ven biển.
Kinh phí thực hiện:  288,161 tỷ đồng.
Hệ thống đê biến bước đầu đã tạo điều kiện cho tỉnh xây dựng được hệ thống đê kiên cố, khép kín,  kết hợp đường cứu hộ cứu nạn trong các trường hợp khẩn cấp nhằm chủ động phòng, chống lụt, bão, nước biển dâng, hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra; khai thác tối đa tiềm năng ven biển, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, tạo điều kiện  phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo ở các địa phương một cách bền vững, đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng ven biển. Chương trình Đê biển cũng đã tạo nên vành đai cây chắn sóng phòng hộ nhằm giảm sự tác động của sóng, triều cường đến hệ thống đê, bảo vệ tuyến đê, chống sạt lở đê, tăng khả năng lắng đọng phù sa, cải thiện môi trường sinh thái, góp phần phát triển bền vững vùng đất ven biển.
- Hệ thống kè sạt lở bờ sông được phê duyệt với 10 tuyến, tổng chiều dài 59,7 km (Kè hai bên bờ sông Sa Lung (cống Châu Thị đến Linh Hải) 17,6 km; Kè hữu sông Bến Hải (từ cầu đường sắt đến Xuân Mỹ) 11,5 km; Kè hộ chân đê Bắc Phước 1,5 km; Kè tả Thạch Hãn (từ cống Đại Độ 1 đến cống Đại Độ 2) 2,4 km; Kè tả sông Hiếu (Các đoạn xói lở nhiều) 5,07 km; Kè hữu sông Hiếu (các đoạn xói lở nhiều) 5,3 km; Kè hữu Thạch Hãn (nối đoạn từ kè Hậu Kiên đến kè Long Giang) 0,83 km; Kè tả Thạch Hãn (nối kè Bờ Bắc đến kè Long Giang) 2,8 km; Kè tả Thạch Hãn (Thượng Phước- An Đôn) 5 km; Kè hữu Thạch Hãn (Tân Mỹ - Khu phố 1- Thị xã Quảng Trị) 7,7 km.
Đến nay đã thực hiện 17 tuyến kè (Bao gồm tả hữu sông Thạch Hãn, Ô Lâu, Bến Hải) với tổng chiều dài 17km, kinh phí 275,387 tỷ đồng.
+  Củng cố, bảo đảm an  toàn hệ thống hồ chứa trên địa bàn tỉnh: mục tiêu: bảo đảm an toàn đầu mối hệ thống hồ chứa, điều tiết dòng chảy, tham gia cắt lũ và phục vụ tưới nước cho sản xuất nông nghiệp , góp phần cải tạo môi trường , phát triẻn kinh tế xã hội.
Đến nay đã hoàn thành một số hồ chứa lớn như Cụm công trình Đá Mài – Tân Kim, Công trình ngăn mặn Sa Lung, Công trình Tiên Hiên và nâng cấp, sửa chữa các công trình vừa và nhỏ như  Hồ Khe Chanh, Đá Lả, Hiếu Nam, Tân Độ, Cù Bai, Phú Dụng, Hà Thượng, Nghĩa Hy, Khe Mây, Trung Chỉ.
Kinh phí thực hiện: 363,250 tỷ đồng.
+  Xây dựng các khu tái định cư di dời dân ra khỏi vùng sạt lở bờ sông, đồi núi, lũ quét: đã cơ bản di dời được các hộ dân ra khỏi các khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở, đảm bảo an toàn, tính mạng và tài sản của nhân dân.
Đến nay đã đầu tư xây dựng 8 dự án, trong đó tiêu biểu là các dự án: Di dân vùng lũ Hải lăng quy mô 300 hộ, tổng mức  đầu tư 49 tỷ - trong đó ngân sách hỗ trợ trên 23 tỷ, hiện đã hoàn thành. Dự án Di dân 3 xã ngập lụt Triệu Thượng, Triệu Giang, Triệu Phong quy mô 150 hộ (Tổng mức đầu tư  26 tỷ, hiện đã bố trí được 20 tỷ, đang xây dựng hệ thống hạ tầng; dự kiến hoàn thành năm 2012. Đặc biệt Dự án Di dân ra khỏi vùng sụt lún và sạt lở đất huyện Cam Lộ đã di dời và ổn định đời sống cho 171 hộ - 928 nhân khẩu thôn Tân Hiệp xã Cam Tuyền sau sự cố sụt lún đất năm 2006 với tổng mức đã hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước và các tổ chức là 26.524 triệu đồng và hiện đang tiếp tục di dời và ổn định đời sống cho 176 hộ thuộc các thôn Hậu Viên (TT Cam Lộ), Lâm Lang (Cam Thủy), Bích Giang (Cam Hiếu) và tân Mỹ (cam Thành) với mức hỗ trợ từ ngân sách 24 tỷ/tổng mức 43 tỷ đồng.
Một số dự án đang được tiếp tục triển khai thực hiện, như: Dự án  Di dân khẩn cấp ra khỏi vùng lũ ống, lũ quét thôn Húc Nghì xã Húc Nghì huyện ĐaKrông với quy mô  150 hộ, tổng mức đầu tư 69 tỷ - hiện đã hỗ trợ 25 tỷ đồng. Dự án di dân khẩn cấp ra khỏi vùng lũ ống, lũ quét chiến khu Ba Lòng huyện ĐaKrông: quy mô 50 hộ, tổng mức  GDD1 30.352 triệu đồng, đã hỗ trợ được 15.000 triệu đồng và một số dự án khác.
Kinh phí thực hiện: 148,796 tỷ đồng
+ Xây dựng hệ thống các khu neo đậu cho tàu thuyền tránh trú bão: Theo quy hoạch, tỉnh quảng Trị được xây dựng 03 khu neo đậu và tránh trú bão, gồm khu neo đậu tránh, trú bão Cửa Việt (bao gồm phía bắc và phía Nam); Khu neo đậu Cửa Tùng và Cảng cá và khu dịch vụ hậu cần nghề cá huyện đảo Cồn Cỏ.
Đến nay đã xây dựng Khu neo đậu Cửa Tùng với 18 trụ neo bờ nam, 6 trụ neo bờ Bắc đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão cho hơn 120 tàu thuyền, đáp ứng ½ nhu cầu; Đang triển khai xây dựng khu neo đậu tránh, trú bão Cửa Việt, với quy mô: 40 trụ neo – khoảng 320 tàu (bờ Bắc 24 trụ, bờ Nam 16 trụ). Riêng Cảng cá và khu dịch vụ hậu cần nghề cá huyện đảo Cồn Cỏ theo quy mô được quy hoạch, đảm bảo trú tránh bão cho khoảng 300 tàu, thuyền, tuy nhiên hiện nay do nguồn kinh phí có hạn nên mới triển khai xây dựng âu tàu phụ nhằm neo đậu cho 70-80 tàu thuyền.  Hệ thống các khu neo đậu cho tàu thuyền vừa đảm bảo an toàn cho người và tàu cá, hạn chế mức thấp nhất thiệt hại do bão gây ra, vừa bảo đảm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương ven biển, góp phần giữ vững an ninh, quốc phòng trên các vùng biển và hải đảo.
Kinh phí thực hiện: 342,0 tỷ đồng.
Có thể nói: Từ khi Nhà nước ban hành các chính sách về phòng, chống giảm nhẹ thiên tai:  công tác phòng ngừa và ứng phó với thiên tai đã được kiện toàn và tăng cường một bước về tổ chức và năng lực điều hành từ Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão các ngành, các cấp do đó đã huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của toàn dân trong ứng phó và khắc phục thiên tai
Các chính sách của Nhà nước về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai là nền tảng pháp lý giúp cho công tác chỉ đạo điều hành ở các địa phương có hiệu quả hơn từ  khâu xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy đến triển khai thực hiện. Tùy đặc điểm từng vùng,  tỉnh đã ban hành các quy hoạch, kế hoạch cụ thể theo từng lĩnh vực nhằm phòng chống, giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với BĐKH làm cơ sở để triển khai thực hiện như  Quy hoạch chuyển đổi diện tích đất trồng lúa vùng trũng năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản; Quy hoạch ổn định dân cư cho vùng thường xuyên ngập lụt ở hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng
Các hoạt động tuyên truyền trong nhân dân về kiến thức giảm nhẹ rủi ro thiên tai, trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân đối với việc phòng ngừa và tham gia ứng phó với thiên tai được tăng cường và kịp thời góp phần giảm nhẹ đến mức thấp nhất các thiệt hại trước, trong và sau thiên tai.
Các chính sách của Nhà nước đã tạo quyền chủ động, linh hoạt cho các ngành, các cấp và nhân dân ở địa phương trong phòng chống GNTT và thích ứng BĐKH; Phương pháp xây dựng quy hoạch, kế hoạch được đổi mới một bước, chú ý nhiều hơn đến sự tham gia của cộng đồng nên nhận được sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng nhân dân trong và ngoài nước, các tổ chức phi Chính phủ và đặc biệt của các nhà tài trợ. Nhiều  công trình  trên địa bàn tỉnh đã và đang được các nhà tài trợ quan tâm hỗ trợ   đầu tư theo hướng vừa  phòng chống thiên tai thích ứng với biến đổi khí hậu vừa phát triển Kinh tế, xóa đói giảm nghèo và  tạo  điều kiện cho sự phát triển bền vững của  tỉnh  như Dự án nâng cấp hệ thống thủy lợi Nam Thạch hãn - ADB 4, Dự án Đê bao vùng úng trũng Hải Lăng - WB4 , dự án Phát triển nông thôn tổng hợp Miền Trung....
5.2) Các vấn đề tồn tại trong quá trình thực hiện chính sách:
- Những tồn tại trong cơ chế, chính sách GNTT:
+ Chiến lược quốc gia về phòng, chống, GNTT (quyết định 172/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) xác định hệ thống các nhiệm vụ và giải pháp thực hiện, trong đó giải pháp về nguồn tài chính được xác định: Ngân sách nhà nước đảm bảo cho việc đầu tư các dự án phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai và dự phòng để xử lý, khắc phục hậu quả thiên tai. Tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ phát triển ODA cho các dự án phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai.
Tuy nhiên việc cụ thể hóa Chiến lược thông qua các chương trình, dự án hiện còn nhiều bất cập, cụ thể:
(1) Chương trình củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang theo Quyết định số 58/2006/QĐ-TTg ngày 14/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình đầu tư, củng cố bảo vệ và nâng cấp đê biển hiện có tại các tỉnh có đê từ Quảng Ninh đến Quảng Nam và Quyết định số 667/QĐ-TTg ngày 27/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ  phê duyệt Chương trình củng cố, nâng cấp hệ thống đê biển từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang:
* Tại Quyết định 60/2010/QĐ-TTg ngày 30/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định  mức hỗ trợ từ ngân sách TW tối đa không quá 90% tổng mức nhưng lại không bao gồm chi phí giải phóng mặt bằng và các giải pháp phi công trình. Quy định này thực sự gây khó khăn cho  các tỉnh nghèo như vùng duyên hải miền Trung, do : việc phải cân đối toàn bộ vốn GPMB thường không đáp ứng nên gây chậm tiến độ thi công công trình dẫn đến việc phải điều chỉnh tổng mức đầu tư.
* Theo Quyết định 58/2006/QĐ-TTg ngày 14/3/2006  (được ban hành trước Luật Đê điều): trong đó quy định trồng cây chắn sóng là phi công trình và vốn thực hiện các giải pháp phi công trình do ngân sách địa phương thực hiện. Theo Quyết định 667/QĐ-TTg ngày 27/5/2009 (được ban hành sau Luật Đê điều): trong đó quy định trồng cây chắn sóng là hạng mục phụ trợ của đê – việc quy định này đến nay chưa có hướng dẫn cụ thể của các ban, ngành TW nên nhiều địa phương hiểu rằng trồng cây chắn sóng thuộc giải pháp công trình – vốn thực hiện giải pháp công trình là vốn NS TW hỗ trợ  theo tỷ lệ nhận bổ sung trong cân đối từ ngân sách TW.
Vì vậy đề nghị TW nghiên cứu có hướng dẫn cụ thể để tránh trường hợp mỗi tỉnh hiểu theo một nghĩa khác nhau. Đồng thời về cơ chế hỗ trợ đề nghị mức hỗ trợ 90% cho tổng mức đầu tư của công trình (không loại trừ chi phí GPMB và chi phí cho giải pháp  phi công trình là trồng cây chắn sóng) để giảm bớt khó khăn cho các tỉnh nghèo như vùng duyên hải miền Trung đồng thời để khuyến khích việc trồng cây chắn sóng bảo vệ hệ thống đê.
(2) Chương trình xây dựng hệ thống các khu neo đậu cho tầu, thuyền tránh trú bão (theo 172): tại Quyết định số 60 của Thủ tướng quy định : NS TW chỉ hỗ trợ 4 hạng mục : nạo vét luồng vào ; xây dựng đê chắn sóng, chắn cát ; trụ neo, phao neo ; hệ thống đèn tín hiệu và mức hỗ trợ cho công trình cấp tỉnh tối đa là 80 tỷ đồng (không gồm các công trình ở các đảo), phần còn lại địa phương tự cân đối bằng nguồn ngân sách địa phương và huy động các nguồn vốn khác tham gia. Tuy nhiên, đối với những tỉnh nghèo như vùng duyên hải miền Trung hàng năm chủ yếu phải nhận cân đối từ NS TW thì việc đầu tư khu neo đậu với quy mô khoảng 250 tàu, thuyền – tổng mức đầu tư 105 tỷ (thời giá năm 2010 tương ứng mức lương cơ bản 730.000 đồng/tháng) là vô cùng khó khăn. Mặt khác quy mô khu neo đậu ở các tỉnh phụ thuộc vào số lượng tàu thuyền của các tỉnh vì vậy mức hỗ trợ theo giá trị tuyệt đối không hợp lý. Đề nghị TW nghiên cứu hỗ trợ công trình  theo tỷ lệ % trên tổng mức đầu tư công trình cho 4 hạng mục trên.
(3) Vấn đề đảm bảo an toàn cho các hồ chứa (theo 172): hiện nay chưa có cơ chế, chính sách rõ ràng. Đề nghị TW nghiên cứu ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ cho cả giai đoạn 2011-2015 và đưa vào kế hoạch đầu tư hàng năm để các địa phương chủ động phòng chống ngay từ đầu mùa mưa bão.
(4) Chương trình di dời, sắp xếp và ổn định đời sống nhân dân vùng thường xuyên xảy ra thiên tai (theo 172) : hiện vẫn đang thực hiện theo Quyết định số 193/2006/QĐ-TTg ngày 24/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình bố trí dân cư các vùng thiên tai, ĐBKK, biên giới, hải đảo, di cư tự do, xung yếu và rất xung yếu của rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2015 ; trong đó vùng duyên hải miền Trung được TW hỗ trợ 70% tổng mức đầu tư của dự án.
Tuy nhiên thực hiện chương trình theo quyết định 193 của Thủ tướng Chính phủ còn chịu sự điều chỉnh bởi Quyết định số 78/2008/QĐ-TTg ngày 10/6/2008 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách thực hiện Chương trình bố trí dân cư theo Quyết định số 193, trong đó mức hỗ trợ cho các hộ gia đình làm  từ 10 - 12 triệu đồng/hộ  nhưng đối tượng hộ được nhận hỗ trợ chưa  đề cập đến các hộ thuộc vùng đặc thù ở một số địa phương vùng miền Trung (thường xuyên sống trong vùng ngập, lũ -sống chung với lũ) nên chưa có cơ chế, chính sách đặc thù. Đề nghị TW bổ sung và cho phép các tỉnh có đặc thù được áp dụng cơ chế riêng như sau:
+  Hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo và hộ cận nghèo trong vùng ngập dưới 1m: 30 triệu đồng để nâng nền nhà lên trên cos nước ngập.
+ Hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo và cận nghèo trong vùng ngập sâu trên 1m: 40 triệu đồng để nâng cao nền nhà là làm 01 phòng tránh lũ diện tích khoảng 30m2.
+ Hộ  nghèo sống trong vùng ngập sâu trên 1m ngoài mức hỗ trợ trên, còn được hỗ trợ thêm 10 triệu đồng để mua thuyền làm phương tiện đi lại trong mùa ngập lũ và mua bồn chứa nước sinh hoạt.
(5) Chương trình trồng và bảo vệ rừng: thực hiện theo Quyết định 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 và Quyết định số Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ.
+ Theo Quyết định số 147 và điều chỉnh tại Quyết định 66/2011/QĐ-TTg ngày 09/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ:
- Hỗ trợ đường lâm nghiệp: Mức hỗ trợ là 450 triệu đồng/km: mức hỗ trợ này là quá thấp so với thực tế thực hiện vì hầu hết đường lâm nghiệp được xây dựng ở vùng sâu, độ dốc vùng trồng rừng lớn từ 150 đến 250, tương đương 33% đến 55% . Mục tiêu xây dựng đường lâm nghiệp gắn với mục tiêu phòng chống cháy rừng do đó tiêu chuẩn xây dựng  đáp ứng tiêu chuẩn đường nội vùng vì vậy  phải hạ độ dốc còn tương đương 10% đến 12%  để đảm bảo an toàn cho người và phương tiện khi ứng cứu cháy rừng, do đó suất đầu tư xây dựng đường lâm nghiệp rất lớn. Đề nghị TW nghiên cứu điều chỉnh theo hướng hỗ trợ theo tỷ lệ % trên tổng mức đầu tư dự án được duyệt và căn cứ khả năng hỗ trợ vốn hàng năm của TW thông qua thẩm định nguồn vốn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính theo chỉ thị 1792 của Thủ tướng Chính phủ.
  - Về định mức  Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có kết hợp trồng bổ sung quy định :  1 triệu đồng/ha/6 năm. Đây là mức quy định từ năm 1999 khi thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. Trải qua hơn 10 năm, đến nay đơn giá  công lao động đã  có sự thay đổi theo hướng tăng lên nhiều lần. Vì vậy đề  nghị TW nghiên cứu để  nâng mức hỗ trợ lên 2 triệu đồng/ha/6 năm để các tỉnh có thể triển khai thực hiện.
(6) Quyết định 172 của Thủ tướng chính phủ ban hành từ năm 2007. Đến nay công tác phòng, chống, GNTT xuất hiện thêm nhiều yếu tố mới trong việc thích ứng với BĐKH, vì vậy đề nghị TW nghiên cứu bổ sung chương trình xây dựng Hệ thống đường cứu hộ, cứu nạn nhằm sơ tán, chuyển dân...trong mùa bão, lũ.
- Những tồn tại trong công tác chỉ đạo, điều hành, thực hiện ở  địa phương.
+ Quy hoạch và Kế hoạch thực hiện chiến lược giảm nhẹ thiên tai giai đoạn 2010 - 2020  của  tỉnh đã được ban hành, song do khả năng nguồn ngân sách của  tỉnh còn hạn hẹp, hàng năm phải nhận cân đối từ ngân sách TW từ 67-70%  nên việc thực hiện Quy hoạch và Kế hoạch thiếu tính chủ động và  đồng bộ giữa các giải pháp công trình và phi công trình; không đảm bảo được các mục tiêu của Quy hoạch và Kế hoạch GNTT theo tiến độ đã phê duyệt.
+ Lực lượng làm công tác phòng, chống GNTT ở cấp cơ sở còn mỏng,  chủ yếu hoạt động theo hình thức  kiêm nhiệm; phương tiện, trang thiết bị cho công tác tìm kiếm cứu nạn còn thiếu nên hiệu quả hoạt động chưa cao.
+ Chưa ban hành được cơ chế động viên, khuyến khích tất cả các nguồn lực xã hội,  doanh nghiệp tham gia vào kế hoạch phòng chống và giảm nhẹ thiên tai.
+ Công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức, kinh nghiệm và pháp luật về phòng tránh, giảm nhẹ rủi ro thiên tai chưa được thực hiện một cách liên tục  đến tất cả các đối tượng nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng tham gia ứng phó với mọi diễn biến và tình trạng bất ngờ xảy ra của thiên tai.
+ Một số địa phương chưa quan tâm đến việc xây dựng quy trình vận hành các công trình hồ chứa nước, hoặc chưa thực hiện theo đúng quy trình vận hành đã được phê duyệt, gây ra những tác hại cho sản xuất của địa phương.
  5.3. Vai trò của cộng đồng trong thực hiện các chính sách:
- Tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng quy hoạch,  kế hoạch quản lý rủi ro thiên tai tại địa phương.
- Xây dựng các phương án phòng chống thiên tai trong chương trình sinh kế bền vững.
- Phản ánh kịp thời thực tế diễn biến thiên tai, tình hình thiệt hại và khắc phục hậu quả thiên tai;
- Tuân thủ sự chỉ đạo của các cấp trong phòng tránh thiên tai.
- Chủ động tham gia các hoạt động không cần nguồn lực tài chính (góp công lao động, vật liệu có sẵn).
- Tham gia vào giám sát, đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch phòng chống thiên tai (phản ảnh kịp thời tình trạng và hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư các công trình, dự án phòng chống và GNTT tại địa phương).
5. 4.  Vai trò của các nhà tài trợ đối với việc giảm nghèo :
Những năm gần đây, kinh tế của  tỉnh có tốc độ tăng trưởng khá cao. Tuy nhiên tỉnh thường xuyên phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai , mặt khác do có xuất phát điểm thấp, nên đến nay  Quảng Trị vẫn là tỉnh nghèo hàng năm phải nhận trợ cấp từ Ngân sách TW từ 67 – 70%. Do đó vai trò của các nhà tài trợ đối với việc giảm nghèo, GNTT  và góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển nhanh và bền vững gắn với bảo vệ môi trường đối với tỉnh  Quảng Trị là vô cùng quan trọng và cần thiết, thể hiện trên các nội dung:
- Bổ sung một nguồn vốn quan trọng (a) cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng KT - XH, phát triển nông - lâm - ngư nghiệp của các tỉnh để đầu tư vào các vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao, vùng đặc biệt khó khăn ở miền núi, ven biển góp phần tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cầu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển xã hội, xóa đói giảm nghèo. (b)  Tham gia khắc phục hậu quả thiên tai sau những mùa mưa lũ lớn  giúp cho  tỉnh sớm khôi phục sản xuất và cơ sở hạ tầng, từng bước ổn định đời sống cho nhân dân.
- Góp phần xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy phát triển KT - XH, nhất là cho các xã nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người; tăng thu nhập nông nghiệp và phi nông nghiệp cho người nghèo thông qua các hoạt động cung cấp tín dụng, trình diễn và nhân rộng các mô hình sản xuất và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ mới.
- Góp phần tăng cường bảo vệ môi trường và phát triển bền vừng thông qua sự hỗ trợ các dự án trồng rừng, cấp nước và vệ sinh môi trường, thu gom và xử lý chất thải.
- Góp phần nâng cao năng lực, nhận thức cộng đồng thông qua các chương trình đào tạo, tập huấn, mô hình trình diễn và xây dựng hệ thống cảnh báo thiên tai.
- Phổ biến, chia sẻ kinh nghiệm, bài học, tư duy và các mô hình về phòng chống thiên tai, đặc biệt cho nhân dân các vùng lũ, ngập nước, thường gánh chịu hậu quả thiên tai.
II. Các vấn đề về phòng chống, giảm nhẹ thiên tai của tỉnh Quảng Trị đến năm 2020:
Tiếp tục triển khai thực hiện các Chiến lược quốc gia về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, về biến đổi khí hậu được cụ thể hóa tại  Kế hoạch quản lý rủi ro thiên tai tổng hợp của tỉnh đến năm 2020 tại Quyết định số 05/2010/QĐ-UBND ngày 11/3/2010:

+ Mục tiêu chung: Huy động mọi nguồn lực sẵn có của địa phương, nguồn vốn cấp phát của Chính phủ, vận động và kêu gọi các nguồn vốn tài trợ của các tổ chức Quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức chính trị - xã hội trong và ngoài nước để thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai trên địa bàn tỉnh nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản của nhân dân và Nhà nước, hạn chế sự phá hoại tài nguyên thiên nhiên, môi trường và di sản văn hoá, góp phần quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh của tỉnh.

+ Nhiệm vụ cụ thể:
(1). Quy hoạch- kế hoạch
Trên cơ sở Chương trình, kế hoạch hành động của tỉnh thực hiện Chiến lược Quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020; thực hiện rà soát, điều chỉnh Kế hoạch GNTT đến năm 2020  để lồng ghép vào Quy hoạch, kế hoạch  phát triển tổng thể kinh tế- xã hội của tỉnh, huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn và Quy hoạch của các Ngành, lĩnh vực giai đoạn đến 2020, định hướng đến năm 2030.
 (2). Tăng cường nhận thức
Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ, công nhân viên chức, lực lượng vũ trang và cộng đồng người dân để tránh tư tưởng chủ quan, xem nhẹ công tác quản lý, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai. Phấn đấu đến năm 2015 sẽ có trên 80% số dân các xã thuộc vùng thường xuyên bị thiên tai và đến năm 2020 toàn bộ cộng đồng người dân sẽ được phổ biến kiến thức về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.
(3). Hoàn thiện hệ thống văn bản qui phạm pháp luật
Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế chính sách trong công tác quản lý rủi ro thiên tai. Kiện toàn Ban chỉ huy PCLB và TKCN từ cấp tỉnh đến cơ sở theo hướng gọn, mạnh, đảm bảo 100% cán bộ chính quyền địa phương các cấp  trực tiếp làm công tác phòng, chống thiên tai được tập huấn, nâng cao năng lực và trình độ về công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai.
(4). Nâng cao năng lực cảnh báo, dự báo
Nâng cao năng lực cảnh báo, dự báo các loại hình thiên tai. Xây dựng mạng lưới thông tin liên lạc phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đồng bộ từ tỉnh đến xã. Nâng cao năng lực dự báo thiên tai cho dự báo viên. Trọng tâm là nâng thời gian cảnh báo lũ trước 48h, nâng thời gian dự báo lũ chính xác cho vùng đồng bằng trước 18h và trước 12h đối với loại hình lũ quét; dự báo cực ngắn các hiện tượng mưa đá, dông tố, lốc xoáy, gió mạnh và mưa lớn.
(5). Quản lý và nâng cấp hệ thống đê điều
Sửa chữa, gia cố, nâng cấp để bảo đảm an toàn hệ thống đê điều hiện có; Quy hoạch, xây dựng mới để củng cố, nâng cao khả năng phòng, chống của hệ thống đê biển, đê sông, đê cát, đê bao, kè sông, kè biển trên địa bàn tỉnh nhằm mục đích bảo vệ dân cư, đất đai, phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng hải đảo, ven biển, ven sông, từng bước ứng phó có hiệu quả với nước biển dâng do ảnh hưởng biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay.
(6). Quản lý và nâng cấp các hồ chứa
Sửa chữa, gia cố, nâng cấp để bảo đảm an toàn cho 200 hồ chứa nước hiện có, đặc biệt là hồ Thủy điện Rào Quán và 10 hệ thống hồ chứa nước, đập dâng loại vừa và lớn có dân cư đông đúc, có cơ sở chính trị, kinh tế, văn hoá, công trình quốc phòng, an ninh quan trọng ở hạ du. Tiếp tục quy hoạch, đầu tư xây dựng mới các hồ chứa nước và các công trình thuỷ lợi khác trên địa bàn tỉnh nhằm giảm thiểu tác hại rủi ro thiên tai và phát triển kinh tế- xã hội bền vững.
(7). Di dời dân khỏi nơi nguy hiểm
Hoàn thành việc di dời, sắp xếp và ổn định đời sống nhân dân vùng thường xuyên xảy ra thiên tai theo quy hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Trước mắt từ nay đến năm 2015, phấn đấu cơ bản hoàn thành việc di dời dân ra khỏi các khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở đất đồi núi, sụt lún đất, sạt lở bờ sông ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhân dân và vùng thường xuyên ngập sâu ở ven sông, suối; phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hoàn thành việc xây dựng các khu tái định cư vùng thiên tai để di dời dân ở các vùng nguy hiểm khác đến nơi an toàn.
(8). Xây dựng các khu neo đậu tàu thuyền
Hoàn thành 100% việc xây dựng các khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão theo quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Phấn đấu đến năm 2015 sẽ xây dựng hoàn thiện 03 khu neo đậu tàu thuyền: Cửa Tùng, Cửa Việt, và Cồn Cỏ.
(9). Hoàn thiện hệ thống thông tin liên lạc nghề cá
Hoàn thiện hệ thống thông tin liên lạc nghề cá từ các tổ chức quản lý đến tận người dân; Mục tiêu năm 2010 sẽ thành lập và xây dựng hoàn chỉnh hệ thống quản lý thông tin tàu cá của tỉnh; phấn đấu đến năm 2015 đảm bảo 100% tàu thuyền đánh bắt có đủ thiết bị thông tin liên lạc, dụng cụ cứu hộ, cứu nạn.
(10). Xây dựng và tổ chức hoạt động lực lượng tìm kiếm cứu nạn
Xây dựng và tổ chức hoạt động lực lượng tìm kiếm cứu nạn ở các cấp, các ngành, phối hợp và hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng tìm kiếm cứu nạn của Trung ương, các tỉnh khác để chủ động ứng phó khi có tình huống cấp bách xảy ra. Tăng cường đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho các lực lượng tìm kiếm cứu nạn của tỉnh, huyện, thị xã; thành lập và đào tạo các đội ứng cứu nhanh cho từng thôn, bản khu phố. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm trang thiết bị và phát triển nguồn nhân lực phục vụ tìm kiếm cứu nạn.
(11). Đảm bảo an toàn giao thông
Phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải đảm bảo an toàn các tuyến đường Quốc lộ 1A, Quốc lộ 9, đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc- Nam và củng cố, nâng cấp các tuyến đường tỉnh lộ, giao thông nông thôn.

+ Định hướng các giải pháp chung

(1). Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
Bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế chính sách liên quan đến lĩnh vực quản lý thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu ở địa phương trên cơ sở chủ trương của Nhà nước phù hợp với đặc thù của tỉnh và tình hình thiên tai, ảnh hưởng biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay.
(2). Kiện toàn hệ thống tổ chức
Kiện toàn hệ thống tổ chức, bộ máy, chuyên môn hóa đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai. Xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, từng bước đầu tư mua sắm trang thiết bị và công nghệ đảm bảo điều kiện làm việc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
(3). Nâng cao nhận thức cộng đồng
Chú trọng và ưu tiên hàng đầu công tác nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý, phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục trên các phương tiện thông tin đại chúng và lồng ghép vào chương trình giáo dục trong nhà trường cho học sinh.
(4). Tăng cường lồng ghép
Lồng ghép  Kế hoạch GNTT đến năm 2020 vào chương trình, kế hoạch phát triển KT-XH địa phương với phương châm “Chủ động phòng, tránh, thích nghi để phát triển” trên cơ sở thực hiện tốt phương án “ Bốn tại chỗ”.
(5). Phát triển nguồn nhân lực
Thực hiện chính sách xã hội hóa và tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực đối với công tác quản lý, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai. 
(6). Quy hoạch ngành
Lập và rà soát quy hoạch các ngành, các địa phương đến năm 2020 trong đó chú trọng  lồng ghép GNTT-TƯBĐKH, đặc biệt đối với các quy hoạch: thuỷ lợi, giao thông; quy hoạch các khu công nghiệp, du lịch; quy hoạch nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; quy hoạch các khu tái định cư vùng thiên tai, bão, lũ, vv...
(7). Thực hiện đòng bộ giải pháp công trình và phi công trình.
 (8). Ứng dụng khoa học kỹ thuật
Phát huy kinh nghiệm truyền thống và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến  trong lĩnh vực quản lý, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai.
(9). Hợp tác và chia sẻ thông tin
Tăng cường hợp tác với các địa phương, Bộ, ngành Trung ương, các tổ chức quốc tế trong công tác cảnh báo, dự báo, giáo dục, đào tạo nâng cao năng lực, chuyển giao công nghệ, chia sẽ thông tin, kinh nghiệm tổ chức phòng, tránh, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai.
Tăng cường hợp tác Quốc tế  trong đầu tư và khắc phục hậu quả thiên tai. 
Giải pháp cụ thể:
a1. Cơ cấu lại các hoạt động kinh tế - xã hội:

+ Phát triển nền nông nghiệp sinh thái đa canh bền vững phù hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu, thiên tai lụt, bão của vùng.

          Phát triển nền nông nghiệp sinh thái đa canh bền vững chính là vừa phát triển cây lương thực, vừa phát triển cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày, vừa làm giàu vốn rừng, vừa tạo quỹ đất.
          Về sản xuất nông nghiệp, vấn đề chủ yếu ở đây là nghiên cứu thời vụ gieo trồng, cơ cấu giống cây trồng hợp lý, đảm bảo hai vụ sản xuất đông xuân và hè thu chắc chắn, đảm bảo thu hoạch trước khi mùa mưa lũ chính vụ đến.
          Đối với sản xuất vụ mùa, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng tiểu khu vực mà chọn thời điểm gieo trồng thích hợp và giống cây chịu ngập, kết hợp với biện pháp chọn giống để bảo vệ những cánh đồng tập trung.

+ Thực hiện trồng rừng và bảo vệ rừng.

          Cùng với tăng cường bảo vệ vốn rừng đã có, tập trung đẩy mạnh trồng rừng đảm bảo trong vòng 5 -10 năm đưa độ che phủ rừng của miền đạt 60 - 65%. Chú ý toàn diện cả rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng kinh tế với các khu định cư mới, rừng cây chắn sóng, chắn cát ven biển.

+  Quy hoạch và tổ chức việc xây dựng công trình cơ sở hạ tầng, đô thị và khu dân cư.

* Phân vùng ngập lụt để quy hoạch các công trình xây dựng, bao gồm: vùng ngập lụt; vùng lũ tràn qua; vùng ven biển hay bị bão, nước dâng.
* Trên cơ sở phân vùng trên đây, định hướng quy hoạch các khu công nghiệp mới, các khu đô thị mới, các khu dân cư tập trung mới nhằm tránh và giảm bớt ảnh hưởng xấu của lụt, bão.   Trước hết, nhanh chóng quy hoạch tổ chức lại các vùng dân cư ở những nơi thường bị lụt, bão uy hiếp:
-  Vùng dân cư hay bị lũ quét, lũ tràn qua, hoặc vùng ven sông, cửa sông, vùng thềm biển đang bị xói lở hoặc có nguy cơ xói lở cần tổ chức di dời đến nơi an toàn.
-  Vùng dân cư hay bị ngập sâu hoặc vùng ven biển, việc xây dựng nhà cửa phải kiên cố hoá hoặc ít nhất có một gian đủ vững chắc để tránh lụt, tránh sóng nước, gió bão.
- Trường học, bệnh viện, kho tàng ở các khu vực này đều phải tiến tới xây dựng theo tiêu chuẩn quy định về an toàn.
* Đẩy nhanh xây dựng hệ thống tiêu chuẩn an toàn về xây dựng và tổ chức thực hiện trong xây dựng dân dụng và công trình kết cấu hạ tầng đối với khu vực miền Trung để đảm bảo độ an toàn bền vững và giảm nhẹ thiệt hại cho các công trình trong các điều kiện lũ, lụt, bão khắc nghiệt, cấp bách là đối với trường học, bệnh viện, cột điện, cột thông tin...
* Đối với các thành phố, thị xã, thị trấn, khu công nghiệp, khu dân cư, cần có các phương án bảo vệ, phòng chống lụt, bão.

+  Đối với nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản.

          - Phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở các hồ, đầm ven biển và theo đề án quy hoạch chuyển đổi diện tích trồng lúa vùng trũng năng suất thấp sang nuôi trồng thủy sản đã được phê duyệt;  nghiên cứu thời vụ nuôi trồng phù hợp để thu hoạch xong trước mùa lũ, bão chính vụ.
          - Có kế hoạch đầu tư cải tạo, xây dựng nâng cấp các cảng cá, dịch vụ nghề cá, một số bến, bãi neo đậu cho tàu, thuyền (kết hợp cảng vận tải với cảng cá), tạo điều kiện cho tàu thuyền của ngư dân có nơi trú ẩn an toàn khi có bão.
a2. Đầu tư phát triển hạ tầng:
+ Công trình thuỷ lợi, đê điều .         
* Xúc tiến triển khai xây dựng một số hồ chứa lớn và vừa, có tác dụng phòng lũ vừa phát triển KT-XH.
* Phát triển hệ thống hồ, đập nhỏ, các trạm bơm, trạm thuỷ điện nhỏ ở miền núi để khai thác tiềm năng đất đai, ổn định đời sống đồng bào các dân tộc ít người và đồng bào vùng kinh tế mới.
* Qua thực tiễn mưa lũ nhiều năm, cần có kiểm kê, kiểm tra đánh giá một cách toàn diện các hồ chứa đã có, để có kế hoạch bổ sung nâng cấp, đảm bảo an toàn cho công trình trong mùa mưa lũ.
* Có kế hoạch từng bước kiên cố hoá hệ thống kênh mương, vừa để giảm bớt thiệt hại cho công trình khi mưa lũ xảy ra, vừa là để tiết kiệm nước.
- Đê điều:  Đối với các vùng ven sông, cửa sông, thường hay bị sạt lở, bồi lấp, cần có một chương trình nghiên cứu đánh giá nghiêm túc để đề ra biện pháp xử lý thiết thực. Trong đó có các vấn đề sau: ổn định cửa sông Thạch Hãn, cửa Tùng sông Bến Hải (Quảng Trị); Các đoạn sông đang bị sạt lở cần được nghiên cứu xây dựng hệ thống kè để  bảo vệ các khu vực đô thị, khu dân cư ven sông
+ Đối với công trình giao thông.
          - Việc cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc – Nam, đường Hồ Chí Minh,... phải đặc biệt quan tâm đầy đủ đến vấn đề thoát lũ, tiêu úng nhanh, đồng thời có giải pháp gia cố mặt đường, mái đường để chống sự phá hoại khi lũ tràn qua.
          - Cần nghiên cứu mở các tuyến đường tránh qua các đoạn đường thường xuyên bị ngập trong mùa mưa lũ.
          - Các cung đường đông - tây nối liền đồng bằng với miền núi cũng được xem xét mở thêm để tào thuận lợi cho việc ứng cứu trong mùa mưa lũ đối với các huyện vùng núi.
          + Công trình quan trắc khí tượng, thuỷ văn.
  • Chú trọng trang bị thêm những trang thiết bị cần thiết để có thể thu thập các số liệu về bão, ATNĐ,và việc nâng cao chất lượng dự báo.

a3. Tăng cường nguồn nhân lực:

+ Tăng cường công tác truyền thông và giáo dục cộng đồng.

        

+ Nâng cao khả năng thích ứng với thiên tai của cộng đồng.

                   - Xây dựng bản đồ ngập lụt, thuỷ chí cho từng vùng để người dân nâng cao được nhận thức mức độ ảnh hưởng mà chủ động đề phòng.
         - Có dự án ưu tiên để nhanh chóng nâng tầng các trường học, trạm xá cho cùng ngập sâu, vừa đảm bảo việc học hành, vừa làm cơ sở cho việc sơ tán kịp thời cho những khu vực dân cư khi gặp lũ lớn.
 a4. Phối hợp với các nhà tài trợ về hỗ trợ chính sách, xây dựng và triển khai các dự án phòng chồng và giảm nhẹ thiên tai:
- Duy trì, phát triển các hoạt động hợp tác quốc tế hiện có như: Ngân hàng Thế giới ( WB); Ngân hàng phát triển Châu Á ( ADB); Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA); Cơ quan Hợp tác và phát triển quốc tế Ôxtrâylia (AuSAID); các tổ chức NGO: World Vision, Plan, Chữ Thập đỏ quốc tế.v.v.v
- Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế để xây dựng cơ sở hạ tầng, trang bị, đồng thời tăng cường năng lực phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai cho nhân dân các tỉnh miền Trung theo mục tiêu ngày càng hoàn thiện và hiện đại hơn.
III. Những kiến nghị, đề xuất
  1. Kiến nghị, đề xuất về cơ chế, chính sách (như ở phần trên đã trình bày).
  2. Kiến nghị, đề xuất về xúc tiến đầu tư các dự án GNTT:
 2.1. Về giải pháp công trình, gồm:
+  Dự án bảo đảm an toàn đầu mối hồ chứa và phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai, gồm 04 hạng mục đầu tư dự án: Sửa chữa, nâng cấp 02 hồ chứa La Ngà, Trúc Kinh, đầu tư xây dựng mới hồ Sông Nhùng và nâng cấp hệ thống kênh mương Hà Thượng; Thời gian thực hiện từ 2012-2015.
+  Dự án cải thiện cơ sở hạ tầng, tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Quảng Trị, gồm 02 hạng mục đầu tư dự án:  Đê biển Vĩnh Thái với chiều dài 7,2km và Kè chống xói lở khẩn cấp sông Ô Lâu đoạn qua xã Hải Chánh dài 5,0 km; Thời gian thực hiện từ 2012-2016..
+  Dự án phát triển nông thôn các tỉnh Miền Trung, gồm 05 hạng mục đầu tư dự án: (1) Nâng cấp hệ thống kênh mương, đường quản lý hồ chứa Bảo Đài, (2) Kè chống xói lở khẩn cấp sông Bến Hải đoạn thượng, hạ lưu cầu Hiền Lương; (3) Xây dựng hệ thống thủy lợi Đông Tây sông Cánh Hòm; (4) Nâng cấp đường giao thông nông thôn TL580-Đại Hòa, Bến Ang-Phúc Lộc, Đại Hòa-Quảng Điền, Cồn-Quảng Điền; (5) Nâng cấp đường giao thông nông thôn Tân Lịch-Hà Thanh-Trúc Lâm-Trúc Kinh; Thời gian thực hiện từ 2012-2016.
+  Dự án bố trí ổn định dân cư tại chỗ vùng thường xuyên ngập lụt tại 11 xã thuộc 2 huyện Triệu Phong, Hải Lăng: Nhằm ổn định dân cư sống tại chỗ cho 10.179 hộ, 48.003 nhân khẩu bị ảnh hưởng ngập lụt hàng năm thuộc 77 thôn của 11 xã thuộc 2 huyện Triệu Phong và Hải Lăng thông qua các giải pháp về hỗ trợ sản xuất và hạ tầng kỹ thuật - xã hội nhằm hạn chế thiệt hại do thiên tai gây ra;  Thời gian thực hiện từ 2012-2015.
2.2.  Về giải pháp phi công trình, gồm:
+ Đầu tư, hỗ trợ cho tỉnh triển khai thực hiện Đề án Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng: Thời gian thực hiện từ 2012-2020.
+  Quy hoạch và lập bản đồ xác định vùng thường xuyên xảy ra thiên tai: vùng ngập lụt, lũ quét, sạt lở bờ sông, bờ biển, nước biển dâng: Thời gian thực hiện từ 2012-2014.
+  Rà soát, bổ sung quy hoạch hệ thống đê sông, đê biển; Thời gian thực hiện từ 2012-2013.
+  Rà soát, điều chỉnh quy hoạch và tổ chức thực hiện di dân, tái định cư vùng thường xuyên bị thiên tai. Thời gian thực hiện từ 2012-2013.
Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a